Tuesday, May 1, 2012

I dont see it relevant, April 2012

Kết thúc tháng 4 bằng việc đào mộ Google, và ra một bài thơ... Sung sướng ngất ngây con vịt quay! Hí hí, đây, "Mùa thu và Tấm". Ôi, vạn tuế cái thời trong trẻo ấy, chỉ thích in thơ chung với bạn mình thôi. Hihi.
http://trinhn.blogspot.com.au/2012/04/mua-thu-va-tam.html

Tháng 4 đúng là mùa cuckoo, mình cho đống thơ "Tottochan's learning English" ra ánh sáng, hí hí, mình spam dữ dội quá, hí hí, vẫn còn nhiều thơ quá, biết làm gì đây? Ước sao thơ hoá... assignment hay project thì đời... vi diệu :)) Đây, spam đây:
http://trinhn.blogspot.com.au/2012_04_01_archive.html

Tháng 4 bắt đầu đi mua sắm linh tinh và lục kho lấy đồ chuẩn bị cho mùa đông, nón ghiền của mình đây, hí hí, thiệt không cầm lòng được trước mấy cái vụ tí tởn này dù là già rùi, nói chung là un-đỡ-able. Bà con, từ huge kid đến em iu đều từ chối comment =))


Tháng 4 đúng thiệt là... party hard! Không cuối tuần nào mà không có tiệc để chạy đi... ăn chực, ăn từ nhà này qua nhà kia luôn. Tháng 5 quyết định lui về phòng thủ, mà hem biết được hem, hehe. Đây là 1 ví dụ, nhân kỷ niệm 25 năm ngày cưới nhà Cọp Giấy.


Tháng 4 hú Tini (cousin in law, the one who I really like and close to) xuống ăn bánh canh nhân tiện để nó nói chuyện với bạn huge kid coi có cách nào hông, vụ rớt 1-2 môn học kỳ gần cuối rồi phải làm sao, nhất là khi đang dùng student visa nữa, căng thẳng man rợ. Hỏi mình là mình thua liền. Đi học ở Oz chưa từng biết thế nào là rớt mà, haha. Còn ở VN thì... học kỳ 8 của đại học, nợ tổng cộng có 7 môn à =)) í là mỗi học kỳ trước nợ 1 môn chơi vậy đó! Lý do nợ thì cũng phong phú vô cùng:
- học ngu quá thi rớt
- vừa vô thi mà I wanted to pee but the exam supervisor determined not to allow, đành nộp giấy trắng đi ra =))
- ham tiền đi làm mùa hè hay mùa tết nên bỏ thi
- ham chơi, đang đi chơi xa và về hông kịp để thi =))
ôi, thời huy hoàng, vậy mà vẫn cương quyết tốt nghiệp đúng hạn! Học kỳ 8 bão nổi!!!

Tháng 4 mình cho daddy mình tiền ăn kẹo, cám ơn em Babayaga đã (ma) đưa lối (quỷ) dẫn đường :)) Em cũng (ma) đưa lối (quỷ) dẫn đường thêm vài vụ hại não khác, cảm ơn luôn :)) Tháng 4 nổi giận đổi tên con heo Ốm thành LA not reply (message) vì nó toàn... gọi, thiệt là "xang chọng nẫm niệt" mà. Tháng 4 cá mập đã ăn thư của my grandson, it was a really big envelope, huhu.

Tháng 4 hóng hớt chuyện dịch thuật văn học và nhiều phen cười lọt ghế! Giang hồ đại loạn, nhân dịp  này nhiều người đạp người khác trồi trồi lên và rồi tự sướng quá! Hồi trước giờ đọc con số, chưa bao giờ mình tưởng tượng nó thiệt sự là bao nhiêu... nhân dịp này phải rút kinh nghiệm, ignore luôn =))

Mình sợ tất cả các thể loại chuyển đổi đơn vị. For ex, when I read recipes from American cookbooks, I find that it will be hard for me to follow indeed. Bên này nấu ăn dùng tea (5ml) spoon, table (20ml) spoon và cup (250ml), cân nặng dùng gram và chiều dài/cao dùng cm. Khác đi là mình... ngu liền =)) Mà chắc ăn đa phần dân ở Úc cũng hệt vậy :P Chưa gì bạn huge kid đã nhắc nhở mình là... muốn biết gì về tự nhiên và tính toán thì phải hỏi bạn í trước, vụ này đã quy định từ hồi "chưa hại đời nhau" mà, haha! Nhà mình có phân công lao động rõ ràng ghê hem, hí hí. Câu nhắc nhở thứ hai của bạn í là: you better do your assignments, cương quyết không đóng tiền ngu nhaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa =)) Private schools bên này làm tiền ghê rợn mà.

Tháng 4 bỗng thấy giang hồ khó hiểu:
- Mình đọc thơ L đến giờ hơn là hơn 10 năm, giờ bạn vợ L (mới xuất hiện 4 năm nay) chạy sang "educate" mình thơ L hay thế nào =))
- Mình mua sổ vintage sến hến xài và rủ bạn nam khác cùng xài, bịnh hông?
- Giang hồ cứ thích chụp mũ "ý kiến bạn đọc" thành ý kiến của nhóm chủ trương :)) ôi ôi ôi
- Trong khi bà con nơi "các nước tư bản thoi thóp lâm chung" decentralise thì giang hồ nhà mình đòi lập center là sao hen <-- Nhân tiện vụ giải-trung-tâm cũng từ hẹn hò với bạn nam sến sổ vintage mà ra, giải-trung-tâm-đao-to-búa-lớn nhưng lập-nhóm-hội-nói-nhảm-miên-man =))
- Khi mình đọc "Thế hệ f" mình nghĩ ngay đó là f for fuck chứ hông phải f for facebook, akak, mình đê tiện hay giang hồ ngây thơ??? =))

Hết tháng 4 thiệt rồi, mình cong mông lên làm việc đây, lại tự mình bảo mình suốt tháng này: Bạn Tottochan sẽ làm được, bạn Tottochan là siêu nhân... hột vịt lộn mà!!! Hú hú.

Monday, April 23, 2012

khen | lưỡng phân | cây cam

Ai chửi mình khùng mình chịu, chứ mình đuối vụ này lắm nha. Mình mà có nhận được chỉ trích gay gắt mang tính tị hiềm và xúc phạm thì mình hoặc là kemeno hoặc là mình phản công. Mình mà nhận được góp ý hay phê bình mang tính xây dựng thì mình đội ơn rồi xem xét coi mình làm được gì để cải thiện hông. Mình không nhận được gì hết thì mình thấy bình thường, thiên hạ bận rộn mà. Hoặc là bạn mình nó chưa rảnh để nói. Nhưng ít nhất ba trường hợp trên là mình còn... biết làm gì, phản ứng lại thế nào. Và nó bình thường, đến thì đón nhận thôi.
Nhưng khi mình nhận được lời khen tặng... Khúc này căng thẳng vô cùng. Oà oà, mình không có thích được khen và không ai dạy mình nhận lời khen như thế nào. Ba mẹ không có nhu cầu khen, và mình không có nhu cầu nhận. Chỗ nào thầy cô định khen thì mình... trốn. Khúc nào sếp định khen mình cũng trốn luôn (ý là đừng khen, làm ơn cho lên lương đó, haha). Bạn bè thì... càng yêu quý càng sỉ nhục nhau, hoặc là khen trong cái cách du côn hoặc dùng... thổ ngữ =)).
Vậy nên nhận lời khen một cách nghiêm túc thiệt là một loại phản xạ mình chưa... có! Ví dụ hôm nay nhận được lời khen, mình đọc email xong té xuống giường, kêu hai tiếng ặc ặc, không biết phải làm gì bây giờ, bèn  ngủ tiếp. Hậu quả là uống cafe sáng lúc 3 giờ chiều. Dù mình biết lời khen đó đến từ hai người đáng kính trọng mà mình quý mến và họ không có "điêu", không có "khách sáo" hay "đĩ chữ" với mình, họ khen thiệt lòng, mình vẫn không biết làm sao mà nhận. Cuối cùng thì đã gọi 1 cú điện thoại và reply một email thiệt dài. Được khen mà hoá ra hại não quá, huhu.

hình minh hoạ không liên quan gì hết
hay có kiểu hình này vì mua vui lúc đứng đợi train :)) 

Mình bị rối loạn lưỡng phân, càng ngày càng nặng thiệt luôn. 2 (nói giảm nói tránh) con người nó quánh nhau trong thân thể mập ú của mình, phút giây trước mình là người khác, phút giây sau mình là người khác. Luôn mệt não vì xét lại và phủ nhận. 
Vậy nên có sự vụ cách đây vài ngày comment xong, định nói tiếp dài thiệt dài theo những gì mình biết và mình cảm nhận cho vui, giao lưu và chia sẻ... rồi ngay khi enter cái comment đó, mình lại là người khác. Mình bỗng dưng muốn thu mình lại vì thấy mình chưa đủ trình độ hay kiến thức dù chỉ để... nói chơi, mình ngại bà con nhìn mình là đứa khoe mẽ, mình thấy mình không nên xuất hiện chốn đông người vì who cares what you said... Vậy là delete. Hờ, có cái rút lại kịp có cái không :P
Cách đây 2 ngày đã tự bắt đầu một cái email rồi sau đó, qua cuộc đối thoại, mình hối hận vô cùng, vì mình đã bắt đầu. Mình đã bắt đầu... thì mình không thể quyết định nó kết thúc như thế nào. Mình đã bắt đầu với vị thế là đồng minh của người nhận email, nhưng sau cuộc đàm thoại đó, mình biết là mình có cố gắng thì người ấy vẫn coi mình là người của bên kia chiến tuyến. Không có gay gắt, không có căng thẳng, không có chửi thề và quan trọng là không có cuộc chiến nào hết... nhưng mình biết. Haiz. Chán nhất là mình đã bắt đầu! Làm sao để bớt yêu người, yêu quý nhiều người quá là một thua thiệt vì lo lắng và vì mệt não quá, akak.

ném đá mấy con mèo :P

Nhân tiện kể luôn, lúc sáng nay check email ngầy ngật, check luôn message thì nhận được message "you are so humble, my friend" muốn gào lên, người phải "khen" tui là "you are so... điên rồ, my friend" thì có!!! Bạn ấy giờ thiệt hoành tráng, để mô tả cho nghe thì thấy ngay =)) 
có em touch-touch chung tình 
cây cam để bất thình lình leo
buồn phổ thông, buồn Bắc reo 
vui vườn trưa những méo mèo trần gian
hái cam mang túi ba gan... 
Rồi xong, bây giờ có sự vụ thơ mà cũng bị book với reserve nữa, hài gớm, chưa gì thấy 1 sự vụ nghiêm trong là "con sói bên lề", sự vụ tiếp theo là "1 mình làm cả cuộc chiến tranh". Bạn bè mình toàn bịnh hoạn không à! (please take it as a compliment =]])

Hết autumn school holiday. Bài chưa làm xong, assignments dzí sát đít. Trong tinh thần ấy, sự lạm dụng cái emoticon này =)) là... tất yếu for God's sake hay là for God's sex cũng được, hí hí (no offense please). 

Monday, April 2, 2012

the 1st of April of 2011 and 2012

Chưa kịp là hồi ức chiến tranh tưởng tượng :))

01.04. của năm 2011.

Chiều đó anh đi làm về kiểm tra hộp thư thì thấy thư Bộ Di Trú, 2 đứa cười và bảo nhau, trời à, thư Chính Phủ đến đúng ngày cá tháng tư, có khi nào bà con đang đùa không? Rồi gọi điện thoại nói chuyện với ba bên này, má bên kia, báo một cái tin quan trọng trước đó và cái vụ giấy tờ đã xong xuôi. Nói vừa xong thì... 2 đứa chạy như ma đuổi ra khỏi nhà. Lúc ngồi chờ ở triage desk, còn lên facebook post một câu status, ai có ngờ đâu chuỗi ngày bi kịch của mình bắt đầu từ đó...

Năm 2011 kết thúc từ ngày 01.04.2011. Tất cả ước mơ đời thường, sự dấn thân học vấn và cơm áo, niềm vui, đời sống hằng ngày, sự sến súa, sự điên khùng... dừng lại hết. Nhường chỗ cho một cuộc chiến. Cuộc chiến không kết thúc sớm như "cố vấn quân sự và vũ trang" và chiến-sỹ-tôi mong đợi. Mùa đông chưa bao giờ khắc nghiệt đến thế. Ý nghĩ tự chết ngọt ngào hơn ttrăm lần những ngày tháng vật vờ đó. Có những ngày chiến-sỹ-tôi cố rướn người, kéo tấm màn cửa sổ ra chỉ để nhìn xem... có đọt lá non nào nhú ra chưa, một chút thôi cũng được, một chút màu xanh, làm ơn xuất hiện để báo hiệu mùa xuân đi. Để có chết trong mùa xuân thì cái chết cũng dịu dàng hơn.

Đến trước khi bước vào trận đánh cuối, mùa đông cũng vào những tuần cuối cùng của năm. Chiến-sỹ-tôi lúc này đã rệu rã. Những đêm ở nơi xa lạ, bỏ mặc những ồn ào, những la hét, những nồng nặc, những rên rỉ xung quanh, từ lầu 12, Harbour Bridge thay cho đường chân trời. Cả đêm nhìn Sydney sáng trưng lấp lánh đèn, rồi nhìn Sydney đỏ rạng đông, Sydney chói loà thứ ánh sáng lạnh ban trưa, Sydney tím hoàng hôn rồi lại nhìn Sydney kiêu hãnh rực  rỡ giữa đêm đen... Tự hỏi lòng mình bao nhiêu ngày nữa nhìn Sydney để rồi mắt khép lại. Tự hỏi lòng mình sao không phải là Saigon. Rồi tự trấn an mình, biết đâu vậy lại tốt hơn cho những người mình thương. Rồi lại đếm tóc như một thú vui, tóc nhỏ xíu và ngắn ngủn như nét bút chì ai đó vô tình chạm gối, một, hai, ba, bốn, năm...

Cuộc chiến rồi cũng kết thúc. Phần thắng thuộc về phe mình. Khi "cố vấn quân sự và vũ trang" chúc mừng, thì chiến-sỹ-tôi đơ ra đó chỉ mím môi im lặng. Ai bảo là hân hoan, ai bảo là reo mừng thì phải nói cười hay tiệc tùng hay hình ảnh hoành tráng? Thì cũng mừng, cũng hân hoan. Nhưng thương tích đầy mình rồi nên mừng và hân hoan khác lắm. Phần đời còn lại, bỗng thêm một người bạn đồng hành, hắn tên "ám ảnh chiến tranh". Ám ảnh nặng nề nhất là "chiến tranh trở lại". Và những vết thương chiến tranh mãn tính ò e ọ ẹ nhắc nhớ khi trái gió trở trời. Phải đóng vai chiến-sỹ-tôi rồi mới biết "thú vui" này nó "vui" thế nào!

Ông già  mình chắc là người đáng thương nhất, mình thấy mình không công bằng với ông, chỉ vì bảo vệ ông, mình quyết định không nói, đến giờ ông vẫn không hay biết mình đã bị dính vào, đã tham gia, đã đi qua một chiến. Chắc có đâu đó sự nghi ngờ. Nước mắt của mẹ, nước mắt của em, nỗi nghi ngờ của ông già... Chỉ muốn nhào đến mà ôm xiết những người đó ngay khi tay chân có thể làm động tác ôm trở lại. Xa quá, không ôm được thịt da thì ôm bằng ý thức. Một cái ôm trong tình trạng mắc kẹt và lưu lạc, quả là một món hàng xa xỉ, một liều ma tuý trị giá đời người chăng? Ngoài 2 gia-đình-hạt-nhân, và vài người bạn ít ỏi ở xa gửi đạn dược tinh thần, nơi này cũng có vài người bạn... Nhất là gia đình Paper Tiger cho mình... ôm.

Chưa hẳn là trở lại...
Vẫn còn phải đi gặp "cố vấn quân sự và vũ trang" thường xuyên.
Nhưng cũng "mở cửa" để nói chuyện cùng bạn bè.
Nhưng cũng tập làm quen lại với ước mơ đời thường, sự dấn thân học vấn và cơm áo, niềm vui, đời sống hằng ngày, sự thuộc về một nhóm, sự sến súa, sự điên khùng... 
Và thấy mình... "cũng được" (khi cắn răng im lặng đi qua một cuộc chiến mà không than thở, khóc kể hay gào thét tìm đồng minh hay viện trợ hay thương hại!)
Và trân trọng những ngày mình sống, và trân trọng ngày-mình-sẽ-chết hơn ngày xưa vạn lần!

01.04. của 2012

Bão vô đến tận Saigon, ba nhắn tin cập nhật tình hình bão rồi im luôn. Dấu với ém nhẹm thông tin đấy! Tình báo má mật thư nhà dột tơi tả, mái tôn bị tróc ra mảng mảng... Đã muộn 1 năm, lỡ chuyến đò FS in FP, nhưng biết đâu nhờ vậy mà trâu bò hơn. Chỉ mong ông bà già chịu khó sống lâu dùm mình. Xong năm nay nhất định lao ra đời!

Wednesday, March 21, 2012

Em đuối!

Em đuối!
Em muốn ôm ấp và làm tình với Kindle chứ hông phải vật vã textbooks và documents.
Em muốn tự do xài tiền mua váy áo và giày chứ hông muốn ngồi bấm calculator tính tỉ lệ lạm phát, nợ fiscal hay thuế thu nhập ông abcd và mức tiền dự đoán lúc về hưu bà xyz.
Em muốn ngồi làm thơ diễm tình và điên loạn chứ hông muốn suy nghĩ chiết hộc đời mình đi về đâu nếu ngày mai tài khoản ngân hàng cạn kiệt.
Em muốn thảnh thơi đi ngủ hông mộng mị, hông khóc nhè và ăn ngon như heo chứ hông phải bị sleeping disorder và eating disorder.
Em muốn lui cui baking with love ti tỉ thứ bánh tây ta rồi hồi hộp chờ thành quả chứ hông phải xẹt ra bakery mua ăn.
Em muốn làm khô bò và bánh giò chứ hông phải ngồi đó mơ ước rồi thở dài.
Em muốn viết picture books với niềm đam mê, sự chia sẻ, và ý nghĩa tốt đẹp nào đó chứ hông muốn phải cân đo đong đếm thù lao rồi thấy đời chán quá, xả nghỉ luôn (*).
Em muốn đem in mấy bài thơ song ngữ mua vui chứ hông muốn làm mất nó sau một thời gian rối loạn chỉ vì ngại bà con sỉ nhục là sính ngoại.
Em  muốn mặt em bớt bư chứ hông muốn nó càng ngày càng bư vì giữ nước.
Em muốn em thực sự mạnh khoẻ sau một thời gian vặt vẹo chứ hông phải mạnh khoẻ cầm chừng và lúc nào cũng nơm nớp với mấy cái án treo.
Em muốn...
Em muốn...
Hú hú, ặc ặc, khẹc khẹc!

Thursday, March 8, 2012

PICASSO

This summer see the greatest Picasso exhibition ever to come to Australia.



Some 150 paintings, drawings and sculptures will fill most of the ground floor of the Art Gallery of NSW. These are ‘Picasso’s Picassos’, personal and revealing works that he kept to shape his own legacy.

Made possible only by the closure of the Musée National Picasso in Paris for renovations, the Gallery is the only venue in Australia on the exhibition’s world tour.

This is a rare opportunity to see work from the world’s most celebrated artist on such scale outside France.

An Australian first, the exhibition showcases seven decades of Pablo Picasso’s art. Every phase of his extraordinary career is represented, including masterpieces from the Blue, Rose, expressionist, cubist, neoclassical and surrealist periods.

...the reality of the 20th century is not the reality of the 19th century, not at all and Picasso was the only one in painting who felt it, the only one.
- writer Gertrude Stein

With a career spanning seven decades of the 20th century, Pablo Picasso (1881-1973) was an integral part of the birth and development of modern art. Ceaselessly innovative and prolific, he embodies the creative spirit of the modern age, yet for all his modernity he was deeply connected with the art of the past. Although he was a pioneer of abstraction, he never abandoned the figure; although he experimented with new media, he remained a master of traditional oil painting and bronze sculpture. His work lays bare his personal passions, desires and fears, as well as the anxieties of his time, the horrors of war, and the fragility and resilience of human life.

Drawn from the collection of the Musée National Picasso in Paris, this exhibition shows a rare perspective on the life and work of this iconic yet still surprising artist.

The exhibition room by room
From Spain to Paris: 1895–1905
The enchantments of Oceania and Africa: 1906–1909
Cubism, collage and constructions: 1910–1915
A return to classicism: 1916–1924
Brushes with surrealism: 1925–1935
Anxieties of love and war: 1936–1939
World War II to Korea: 1940–1951
The joy of life: 1952–1960
Last decades: 1961–1972



From Spain to Paris: 1895–1905

When I was a child, I could draw like Raphael, but it took me a lifetime to learn to draw like a child.
- Pablo Picasso

Picasso’s talent was evident from a young age, first recognised and nurtured by his art teacher father. Several early drawings in this room, made when he was around 13 years old, show his exceptional skills in figure drawing. During his teens, Picasso furthered his academic training at various art schools in Spain and at 19 took his first trip to Paris, when one of his works was selected for the Exposition Universelle. Over the next four years, Picasso moved restlessly between Paris and Barcelona, discovering the work of the post-impressionists and befriending fellow painter Carlos Casagemas, whose suicide in 1901 affected him deeply.

Picasso drew his subjects from the underbelly of modern city life: beggars, the homeless and prostitutes. Evoking the alienation of the disenfranchised in endless shades of blue and grey, this became known as his Blue Period. While these works were inspired by contemporary art and life, they were also rooted in history: the ashen features and elongated limbs of Picasso’s figures recall paintings by his 16th-century compatriot El Greco.

Finally settling in Paris in 1904, Picasso took up a studio in the famed ‘Bateau-Lavoir’ – a complex of artists’ studios in the bohemian quarter of Montmartre. His Rose Period paintings – so-called for their palette of dusty earth tones and pinkish reds – were largely inspired by the circus and theatre. Le fou (The jester) 1905, an early foray into bronze sculpture, was inspired by an evening at the Cirque Medrano, though it is also a ‘portrait’ of the poet Max Jacob, one of Picasso’s broadening group of Parisian friends – a circle that included writers and artists who would come to define the modern era: Henri Matisse, André Derain, Gertrude Stein and Guillaume Apollinaire.

La Célestine
Celestina 
1904
oil on canvas, 74.5 × 58.5 cm, gift of Fredrik Roos, 1989, MP1989-5 © Succession Picasso, 2011/licensed by Viscopy, 2011 © Paris, Réunion des Musées Nationaux/rights reserved © Musée National Picasso, Paris
The subject of this painting is possibly based on a character from a 15th-century Spanish novel, a brothel keeper named Celestina. The milky appearance of the woman’s leucoma-affected left eye is one of many references to blindness in the works from Picasso’s Blue Period. Almost a monochrome of blue-grey, the figure is given only the slightest hint of warmth in the rose blush of her left cheek, suggesting the humanity of this forlorn woman, isolated in the cocoon of her inky blue cloak.

‘The enchantments of Oceania and Africa’: 1906–1909


Painting isn’t an aesthetic operation; it’s a form of magic designed as a mediator between this strange, hostile world and us, a way of seizing power by giving form to our terrors as well as our desires.
- Pablo Picasso

In 1907 Picasso painted the complex and now iconic Les demoiselles d’Avignon. A dense and shallow composition of angular, contorted figures, it shocked and perplexed even his most avant-garde contemporaries. Matisse thought it an ‘audacious hoax’, a parody of the increasingly abstract treatment of figures in modern painting. Picasso himself called the painting an ‘exorcism’.

His studies for Les demoiselles d’Avignon on display in this room reveal the range of influences and approaches that went into producing this landmark work. They are not studies in the traditional sense but, typically for Picasso, explorations of possible types that may or may not be included in the final composition. Particularly evident is his growing fascination with tribal art, as seen in the mask-like, chiselled features and angular bodies that caused such extreme reactions to the final work.

Captivated by the Tahitian-inspired works of Paul Gauguin and the Pacific and African collections of the Louvre and the Musée d’Ethnographie du Trocadéro (now the Musée de l’Homme), in 1907 Picasso acquired a carved tiki figure that influenced his first wood carving, the totemic oak Figure 1907. The sculpture’s rough-hewn appearance captures the ‘naive’ quality of so-called ‘primitive’ art that Picasso and several of his contemporaries found compelling. Tête de femme (Fernande) (Head of a woman (Fernande)) 1909, a bronze portrait of his lover Fernande Olivier, uses a more complex, rhythmic repetition of angular forms – a suggestion of the ‘cubist’ style that would dominate his work in the coming years.
















Autoportrait
Self-portrait
1906
oil on canvas, 65 × 54 cm, Pablo Picasso Bequest, 1979, MP8 © Succession Picasso, 2011/licensed by Viscopy, 2011 © Paris, Réunion des Musées Nationaux/René-Gabriel Ojeda © Musée National Picasso, Paris
This self-portrait hints at Picasso’s burgeoning interest in the art of ancient cultures. During 1906 he spent time studying the Louvre’s collection of Iberian sculpture and travelled to the Catalan village of Gosol, where the distorted and exaggerated forms of the region’s carved figures greatly affected him. In this self-portrait, the almond-shaped eyes, deeply etched and ringed in black, are asymmetrical – a characteristic of all his portraits. Adding further to the figure’s stony appearance, the subtle pink and flesh tones are a paler version of his true Rose Period palette (such as Les deux frères (The two brothers) also in this room).

Cubism, collage and constructions: 1910–1915

Cézanne was my one and only master! I spent years studying [his pictures] ... Cézanne! It was the same with all of us – he was like our father.
- Pablo Picasso

For Picasso and many of his contemporaries, no recent artist was more significant than Paul Cézanne. A retrospective of Cézanne’s work, held after his death in 1906, galvanised his influence, and it was around this time that Picasso met Georges Braque.

Over the following years the two artists worked in tandem, visiting each other’s studios almost daily and sharing ideas about painting. Picasso’s Paysage aux deux figures (Landscape with two figures) 1908 typifies their early shared style – a Cézannesque, jagged landscape with blocky, visible brushwork. Their collaboration ultimately produced perhaps the most significant innovation in modern painting: cubism, which combined several possible views of a three-dimensional object in the one image. Braque described their collaboration as ‘like two mountaineers roped together’, evoking at once their co-dependence and the pioneering exhilaration of their artistic endeavour.

In the wake of their six-year collaboration, Picasso and Braque each took cubism in different directions. Picasso continued to work in collage, incorporating wallpaper, cut pieces of canvas, newsprint, lettering and other materials into his compositions. His innovative constructions in wood and sheet iron, painted and wall-mounted, combine the qualities of painting and sculpture. Dispensing with the time-honoured methods of carving or modelling, this was an entirely new way of creating sculpture.

Cubism opened up infinite possibilities for painting, including pure abstraction, and was developed in many forms by artists across Europe, America and Australia. However, the classical realism of the unfinished Le peintre et son modèle (The painter and his model) 1914 proves that even at the height of his cubism, Picasso was not constrained by it as a style.


















Homme à la guitare
Man with a guitar
1911
oil on canvas, 154 × 77.5 cm, Pablo Picasso gift in lieu, 1979, MP34 © Succession Picasso, 2011/licensed by Viscopy, 2011 © Paris, Réunion des Musées Nationaux/René-Gabriel Ojeda © Musée National Picasso, Paris
By 1911 Picasso’s and Braque’s work had become practically indistinguishable. The distinctive grey and ochre ‘scaffolding’ of this painting is typical of their work of this time, known as ‘analytical cubism’. The extremely limited colours focus our attention on the complex interlacing of lines and shaded planes. Enigmatic lettering in the top right-hand corner seems to be a reference to the newsprint Picasso had begun to incorporate into his cubist collages.

A return to classicism: 1916–1924


The art of the Greeks, of the Egyptians, of the great painters who lived in other times, is not an art of the past; perhaps it is more alive today than it ever was.
- Pablo Picasso

While World War I sent many Parisian artists to the front, Picasso, as a foreign national, continued to work largely undisturbed. He travelled to the south of France and to Italy for the first time, and his experience of the art of ancient Rome and Pompeii brought a renewed emphasis on classical beauty and naturalism.

In 1916 Picasso befriended the writer Jean Cocteau, who introduced him to the founder and artistic director of the Ballets Russes, Serge Diaghilev. The three collaborated on the ballet Parade, composed by Eric Satie. The avant-garde score and circus imagery of Parade called for a decorative use of pattern and colour that carried through to Picasso’s work beyond the stage.

Perhaps in accord with the postwar mood described by Cocteau as a ‘call to order’ – a desire for stability, introspection and contemplation after the shock and destruction of the war – Picasso returned to the classics. The heavy sculptural quality of his 1920s figures could hardly be further from the flattened planes and abstractions of cubism, though they often retain the jagged bulk of his Oceanic-inspired work. Yet again, Picasso’s sources were eclectic: the influence of Renoir’s late paintings of robust female figures can be seen in La dance villageoise (The village dance) 1922, while domestic life inspired tender images of his new wife Olga and playful portraits of their first child, Paul.


















Portrait d’Olga dans un fauteuil
Portrait of Olga in an armchair
1918
oil on canvas, 130 × 88.8 cm, Pablo Picasso Bequest, 1979, MP55 © Succession Picasso, 2011/licensed by Viscopy, 2011 © Paris, Réunion des Musées Nationaux/René-Gabriel Ojeda © Musée National Picasso, Paris
This elegant portrait of his new wife, Ballets Russes dancer Olga Koklova, recalls classical Greek and Roman sculpture. The stylised twists and folds of Olga’s dress and fan are echoed in the subtle wave and sheen of her hair. Likewise, the smooth modelling and cool tones of Olga’s face, neck and arms give her flesh the appearance of marble.

Brushes with surrealism: 1925–1935

We claim him unhesitatingly as one of us.
- surrealist André Breton

Jean Cocteau introduced Picasso to André Breton and his surrealist circle. Picasso showed some of his cubist works at the first surrealist group exhibition in 1925 and designed the cover of the first issue of their journal, Minotaure. Revived by the surrealists, the half-man, half-bull minotaur of classical mythology also became a kind of alter-ego for Picasso, reappearing throughout his career.

The surrealists advocated no one style of art but operated with deliberate irrationality, evoking subconscious associations and dream states. This found a parallel in Picasso’s expressive and sometimes extreme distortions of the figure, often into animal-like forms. However Picasso’s involvement with the movement remained marginal: as in most of his artistic associations, he always remained strongly independent.

In the early 1930s, Picasso produced a number of spare landscapes peopled by extremely distorted nudes. Combining eroticism and violence, they leaned ever closer to surrealism, while a series of enormous bronze heads cast in 1931, brought their rotund, pebble-like shapes into three-dimensional form.


















La lecture
The reader
1932
oil on canvas, 162 × 130 cm, Pablo Picasso Bequest, 1979, MP137 © Succession Picasso, 2011/licensed by Viscopy, 2011 © Paris, Réunion des Musées Nationaux/René-Gabriel Ojeda © Musée National Picasso, Paris
This portrait of Marie-Thérèse Walter bears many of the hallmarks of Picasso’s series of nudes inspired by his young lover: lyrical curves, joyous colours, decorative patterning and an emphasis on her defining blonde hair. The pair met in 1927, when Walter was aged 17, and Picasso created clear references to her in his work while trying to keep their affair clandestine. Later in life, Picasso revealed that even the large still-life Grande nature morte au guéridon (Still-life on a pedestal table) 1931, also in this room, was a disguised ‘portrait’ of Marie-Thérèse, the parts of the table and its contents doubling as parts of her body.


Anxieties of love and war: 1936–1939

For me painting is a dramatic action in the course of which reality finds itself split apart.
- Pablo Picasso

The 1930s was a turbulent decade for Picasso. His marriage to Olga broke down when his lover Marie-Thérèse became pregnant, and in 1935 he began a relationship with the surrealist photographer and writer Dora Maar. For the only time in his career, he ceased to paint for some nine months in 1935–36, instead writing poetry in the manner of surrealist ‘automatic writing’. The outbreak of civil war in Spain disturbed Picasso greatly and his monumental mural Guernica, commemorating the bombing of the Basque town by right-wing nationalists in 1937, remains a potent anti-war image to this day.

Maar photographed Picasso many times in his home and studio and famously documented the evolution of Guernica (these photos are also displayed in the exhibition). In turn, using Maar as his subject, Picasso created some of his most complex portraits, combining aspects of cubism, surrealism and the expressive colours and angles of his ‘weeping women’ to convey a distinctive psychological intensity.

Animal imagery was a significant part of Picasso’s output at this time. Guernica was dominated by the bull and the horse and these symbolic animals reappear as symbols of male vigour in works such as the enigmatic La Minotauromachie (The Minotauromachia) 1938, where again Picasso casts himself as the minotaur.


















Portrait de Dora Maar 
Portrait of Dora Maar
1937
oil on canvas, 92 × 65 cm, Pablo Picasso Bequest, 1979, MP158 © Succession Picasso, 2011/licensed by Viscopy, 2011 © Paris, Réunion des Musées Nationaux/Jean-Gilles Berizzi © Musée National Picasso, Paris
Although the pose here suggests a profile, all of Maar’s facial features stretch across her face, multiple view-points fused into one. Her formidable presence stems from a confident yet nonchalant pose, her mismatched eyes framed with their distinctively splayed lashes, gazing headlong at the viewer. She is contained within a tight white niche, which Picasso has diffused by scratching back into the paint to reveal brightly coloured areas beneath – a curious blending of interior and exterior.


World War II to Korea: 1940–1951

Real death was outside, real fear grounded within, and Picasso’s iconography narrowed upon it.
- art historian Leo Steinberg

In 1940 the Nazis invaded Paris. During the occupation, Picasso continued to work, albeit under the watchful eye of the German authorities. Many of Picasso’s friends fled or were driven from Paris, including the writer Max Jacob who was interned and eventually executed in a concentration camp.

Capturing this atmosphere of tension and uncertainty, symbols of death, particularly the skull, pervade Picasso’s work. While such mementos mori have a long history in Western art as reminders of our fleeting existence, the bare honesty with which they are painted and sculpted by Picasso transforms them into poignant emblems of the death and destruction of the war.

Where many of Picasso’s earlier works depict the bull in conflict with a horse or matador, he now shows the bull alone, cast simultaneously as a symbol of strength and vulnerability. In one of the more whimsical appearances of this favourite motif, an old bicycle seat and handle bars are combined to create a dada-like assemblage resembling a bull’s head (1942). In contrast, L’Homme au mouton (Man with sheep) 1943, one of Picasso’s most ambitious bronze sculptures, is a powerful allegory of human fragility. It became one of only two sculptures by Picasso to appear in a public space in France (in Vallauris, near Cannes).

Throughout this period, Picasso’s success continued to grow. Major retrospectives of his work were held in New York in 1939 and in 1944 at the first Salon d’Automne to occur following the liberation of Paris. Around this time he also met artist and writer Françoise Gilot, who later penned memoirs on her life with Picasso. Together, they had two children: Claude (born 1947) and Paloma (born 1949).











Massacre en Corée
Massacre in Korea
1951
oil on plywood, 110 × 210 cm, Pablo Picasso gift in lieu, 1979, MP 203 © Succession Picasso, 2011/licensed by Viscopy, 2011 © Musée National Picasso, Paris © Paris, Réunion des Musées Nationaux/Jean-Gilles Berizzi
Depicting an assassination by firing squad during the Korean War, this painting reveals Picasso’s passionate objection to war and commitment to communism (he had joined the party in 1944). The composition is based on Francisco de Goya’s well-known painting The third of May, 1808 1814 in which the two halves of the panel contrast the brutality of the perpetrators of war with the naked vulnerability of their victims.

The joy of life: 1952–1960

I paint the way some people write an autobiography. The paintings, finished or not, are the pages from my diary…
- Pablo Picasso

Picasso’s work from the mid 1950s reflects a more cheerful outlook and time. In 1953 he met and fell in love with Jacqueline Roque and in 1955 they moved permanently to the south of France. Picasso depicted Jacqueline more than any other woman in his lifetime, creating in one year alone over 70 portraits of her.

In his later decades, Picasso reworked some of the themes, methods and styles of earlier years, particularly cubism. The planes of solid colour in La liseuse (Woman reading) and L’ombre (The shadow), both painted in 1953, evoke the quasi-abstract layers of earlier paper collages and assemblages. In Jacqueline aux mains croisées (Jacqueline with crossed hands) 1954 and Femmes à la toilette (Women at their toilette) 1956, Picasso interprets the body as a construction of grey and white planes, as if made of folded card, recalling the monochrome scaffolding of analytical cubism. In all of these paintings, the vividly coloured interiors reflect not only a more positive post-war outlook but also the influence of Henri Matisse. Picasso often visited Matisse in the years before the latter’s death in 1954 and held a singular respect for Matisse’s handling of complex colour.

In the summer of 1956, Picasso made an extraordinary series of sculptures inspired by bathers on the Mediterranean coast (on display in another room of the exhibition). Cast from assembled found objects – with picture frames turned into arms, parts of a bed into feet, a broom handle into a backbone – this series is one of his most striking and playful.











L’atelier de La Californie
The studio of La Californie
1956
oil on canvas, 114 × 146 cm, Pablo Picasso Bequest, 1979, MP211 © Succession Picasso, 2011/licensed by Viscopy, 2011 © Paris, Réunion des Musées Nationaux/Jean-Gilles Berizzi © Musée National Picasso, Paris
Depicting his new house and studio in Cannes, this painting celebrates the fresh colour and clear light of the Mediterranean, and reveals the pervasive influence of Picasso’s friend and rival Henri Matisse.
The interior is described in calligraphic, lyrical lines that play on the patterns created by the decoratively perforated windows. Jaunty palm trees outside are composed of quick, gestural strokes of pure colour in the manner of Matisse. The studio is scattered with canvases in various states of finish. On the sole easel at the very centre, one remains tantalisingly (or perhaps frustratingly) blank.

Last decades: 1961–1972

I am a Spaniard. Just as a torero takes his bull through all kinds of passes, I like to take my pictures through all kinds of variations.
- Pablo Picasso

By now acclaimed as a master of modern art, Picasso worked with an urgent and defiant creativity. In printmaking, he collaborated with master printers Piero and Aldo Crommelynck. In sculpture, he produced new works in sheet metal based on cut and folded paper models, which also seemed to hark back to his cubist metal constructions – for example, La chaise (The chair) 1963. In his late self-portraits, Picasso cast himself in an array of roles: as a sword-wielding matador, an ageing artist with his young model and, most poignantly, as a wide-eyed, youthful artist, palette in hand.

At times, Picasso’s late works drew criticism for being repetitive or derivative, including those inspired by iconic paintings from the history of European art by artists such as Velázquez, Goya, Poussin, Delacroix and Manet. Yet it was always Picasso’s enduring bond with the history of painting that brought about innovation in his work, or as he put it: ‘What does it mean for a painter to paint in the manner of So-and-So or to actually imitate someone else? What’s wrong with that? On the contrary, it’s a good idea… And it’s at the very moment you make a botch of it that you’re yourself.’

It is only more recently that the significance and innovation of Picasso’s late works have come to be appreciated, with many art historians, critics and particularly artists acknowledging Picasso’s continuing and insatiable creativity. As his close friend, the photographer Brassaï said: ‘He thought that if he stopped working, that was death’. In Picasso’s words : ‘I paint just as I breathe’.












‘Le Déjeuner sur l’herbe’ d’après Manet
‘The déjeuner sur l’herbe’ after Manet
1961
oil on canvas, 81 × 99.8 cm, Pablo Picasso gift in lieu, 1979, MP216 © Succession Picasso, 2011/licensed by Viscopy, 2011 © Paris, Réunion des Musées Nationaux/Jean-Gilles Berizzi © Musée National Picasso, Paris
Edouard Manet’s Le Déjeuner sur l’herbe 1862–63 (Musée d’Orsay, Paris) created a sensation when it was first exhibited due to its unconventional juxtaposition of modern clothed men and a confronting female nude. Painted almost 100 years later, this is just one of dozens of versions Picasso made of Manet’s composition, albeit with great artistic licence: he has altered the poses of all figures, eliminated the picnic in the foreground and increased the proportion of women to men, emphasising their voluptuous poses before the shadowy male observer.

Friday, March 2, 2012

The Girl who played Go

La joueuse de go by Shan Sa. 
Thiếu nữ đánh cờ vây, Sơn Táp. 
"Tôi không biết gì hơn, ngoài tâm hồn anh". 


Năm 2006, đã có một lúc tôi vô cùng tức giận khi biết một giảng viên đang dạy môn văn học Trung Quốc trong tiểu luận của cô/anh ấy, xếp "Thiếu nữ đánh cờ vây" vào cùng nhóm với "Điền cuồng như Vệ Tuệ" và "Búp bê Bắc Kinh"... Khi ấy thực sự tôi gào lên thảm thiết, vì tội nghiệp cho tác phẩm và nỗi hoài nghi rất lớn vẫn còn đến hôm nay: cô/anh ấy có thực sự đọc tác phẩm không, hay chỉ đọc điểm báo và "điểm danh" tác phẩm như một thói quen đáng khinh bỉ? 


Những ngày 2012, đọc lại. Một lần bản tiếng Việt. Một lần bản tiếng Anh (The Girl who played Go). Và vẫn thấy xúc động vô cùng. Và vẫn muốn chảy nước mắt khi đọc những trang cuối. Tình bạn đẹp. Lòng yêu nước đẹp. Sự hy sinh đẹp. Và trên tất cả là tình yêu.   


Những trang Sơn Táp viết có dục tính thật tròn trịa. Dù nó luôn bị xen lẫn bởi cảm thức thời đại, hay sự suy tư về vai trò của mỗi cá nhân đang sống trong một xã hội mà các giá trị đều đang đứng ở bờ vực. 

Hồi còn ở Nhật, tôi đã học cách tuân thủ theo những luật chơi chặt chẽ của cờ vây. Tôi chơi trong yên lặng, trong thiên nhiên hồn hậu. Thân thể tôi thư giãn, những nước đi đột hứng truyền năng lượng xuống bụng, hơi thở điều hoà để hướng đạo cho tư duy, tâm hồn tôi chầm chậm đạt tới sự song hành với vũ trụ.
Còn ở đây, chơi cờ chẳng có tính trí thức gì cả. Mùa hè Mãn Châu cũng khắc nghiệt như mùa đông. Ai chưa biết thế nào là cháy bỏng, thế nào là loá mắt thì chưa thể hiểu sức mạnh của mảnh đất đen này. Sau buổi tập luyện khắc khổ làm khô héo và bẻ gãy cả thân xác, một ván cờ vây với cô gái người Hoa là sự đào tẩu vào thế giới của quỉ dữ. Sức nóng tháng Sáu thấm vào các mạch máu thư giãn và mài giũa các giác quan của tôi. Chỉ một dấu hiệu nhỏ nhoi cũng khiến tôi nổi cơn đột hứng nhục dục: cánh tay trần của em, gấu váy em nhàu, mông em vồng lên dưới lớp lụa, một con ruồi bay qua.
Thật là một cực hình khi phải giữ gìn tư cách trước đối thủ. Từ một tuần lễ nay, mặt em rám nắng gầy đi như một hạt táo. Em mặc đồ không có ống tay. Các loại áo dài kiểu Mãn Châu này bó sát người khiến phụ nữ trông càng gợi tình hơn cả khi họ trần truồng. Đầu chúng tôi gần chạm nhau trên bàn cờ. Tôi cố chống cự lại những thèm khát bản năng, nhờ vào một ý chí sắt đá tôi luyện qua nhiều năm quân kỷ, nhưng đúng là cực hình trên bàn cờ.
Sang Trung Quốc giúp tôi hiểu rõ hơn vinh quang và khốn cùng của người lính. Anh ta đi theo mệnh lệnh mà không biết mình sẽ đi đâu, chân hướng về đâu. Anh chỉ là một quân cờ trong nhiều quân cờ khác. Anh sống, anh chết, vô danh, vì chiến thắng của Tất cả. Cờ vây biến tôi thành bộ tổng tham mưu điều khiển đám quân trong lạnh lùng tính toán. Quân đi. Nhiều quân cờ bị hy sinh trong vây hãm để phục vụ cho một chiến lược.
Cái chết của quân cờ cũng giống như cái chết của đồng đội tôi.

Tôi thật thích cảnh người lạ mặt canh giấc ngủ cho cô gái ở trên đồi. Người canh gác bình yên. 

Đến giữa khoảng rừng trống, cô gái nghiêng mình:
- Xin anh hãy trông cho tôi. Đừng đánh thức tôi nếu tôi ngủ.
Em nằm dài xuống cỏ dưới gốc cây, đầu gối lên chiếc cặp học sinh.
Tôi quá ngạc nhiên không biết phải làm gì. Tôi hiểu tất cả mà vẫn chẳng hiểu gì. Em muốn tôi đến với em dưới bóng cây. Em biết rõ mối nguy hiểm của các cuộc bao vây, em tính trước cả mười nước đi để tránh bị vây hãm, em lại vừa tự mình dấn vào vòng rối ren của tình cảm con người để biến mình thành tù nhân của tôi.
Tôi sờ vào khẩu súng lục giấu trong áo dài. Hay là em đã biết rõ tôi là ai? Hay là em bẫy tôi? Quanh tôi, cây và cỏ tạo thành một vòng vây đáng sợ. Tôi lắng nghe, chẳng có gì ngoài tiếng ríu ran của một chú chim, tiếng kêu nhàm chán của lũ ve và tiếng rì rầm của một con suối.
Tôi đến gần cô gái. Mắt nhắm, chân hơi gập lại, em co người về bên trái. Tôi lấy quạt đuổi một con ong nhầm tưởng lớp lông tơ mịn mướt trên mặt em với lớp lông phấn của hoa. Em cũng chẳng phản ứng gì khiến tôi nghiêng người cúi xuống. Ngực em phập phồng lên xuống đều đặn theo nhịp thở. Em ngủ thật!
Tôi ngồi tựa lưng vào gốc cây che chúng tôi. Giấc ngủ say của thiếu nữ khiến tôi xúc động. Tôi quyết chờ đến khi em thức dậy và cũng chìm dần trong một giấc ngủ trưa mát mẻ. Mi mắt tôi trĩu xuống. Tiếng côn trùng rì rầm như ru tôi và tôi nhắm mắt.
Chuyện này đã bắt đầu ra sao? Tôi sống ở Nhật Bản còn em ở tận Mãn Châu. Một sớm trời tuyết phủ, sư đoàn chúng tôi đổ bộ lên lục địa. Từ trên cầu tàu đã có thể nhìn thấy biển dày sương mù thì thầm vang tiếng sóng vỗ. Đất Trung Hoa mà chúng tôi còn chưa thấy, đối với tôi vẫn là một ý tưởng siêu thực. Và từ trong sự im lìm màu xám đó vọt ra nào đường sắt, nào rừng, sông, thành thị. Các nẻo đường khúc khuỷu của số phận đã dẫn tôi tới quảng trường Thiên Phong, nơi một thiếu nữ chờ tôi. Tôi không nhớ ván cờ vây đầu tiên chơi như thế nào. Tôi bắt đầu học chơi cờ từ cách đây hơn mười lăm năm. Sau đó, tôi ra sức thách đấu với người lớn còn họ chiếu cố nhường cho tôi một vài nước. Họ cười tôi về chiến thuật sơ đẳng. Các cuộc bao vây của tôi nặng nề như cơm rơi vào dạ dày người đói. Thời đó tôi không hề có ý niệm gì về tương lai lẫn quá khứ. Chơi cờ vây nhiều năm đã dạy tôi cách tự do đi về trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Từng quân, từng quân một, từ trắng rồi tới đen, hàng ngàn viên đá xây nên một chiếc cầu bắc đường vào sự vô tận của Trung Hoa.
Tôi mở mắt. Trên nền trời, một núi mây với những vực sâu tạo cho khoảng rừng thưa của chúng tôi một bề dày kỳ quặc. Cỏ cây, cành lá, hoa không thể nhìn thấy được trong ánh nắng gắt, nay mang hình dáng sắc nét tựa như chúng vừa được gọt giũa xong. Gió thổi lá cây rì rào. Cô gái người Hoa vẫn ngủ trong tiếng hoà đàn của kôtô, của sáo trúc, của đàn shamisen. Váy em phủ kín tận mắt cá chân. Lá khô rơi trên thân em biến tấm vải màu xanh tím, nhàu đi theo nét cong của cơ thể em, thành một tấm khăn choàng lộng lẫy, với các nếp nhăn, các vũng sâu, các đường lượn sóng. Liệu em có ngồi dậy và múa trên chiếc khăn đó để dâng lên thần linh và những kẻ mơ mộng hay không?
Mặt trời lại ló ra sau đám mây. Một vầng sáng như chiếc mặt nạ vàng phủ lên mặt người đang ngủ. Em rên lên và quay sang bên phải, má trái hằn vết cỏ. Tôi lặng lẽ xoè quạt và giữ trên đầu che cho em. Lông mày em đang nhíu giãn dần ra. Một nụ cười mơ hồ phảng phất trên môi.
Tôi nhẹ nhàng ve vuốt thân em bằng bóng quạt. Khoái cảm không chế ngự được xâm chiếm toàn thân. Tôi đột ngột khép quạt lại.
Làm sao tôi có thể nhầm lẫn giữa sự vô tình và nỗi e thẹn, sao tôi lại như ngu như điếc trước lời mời gọi của em? Em đã yêu tôi từ lúc tôi vẫn coi em như một cô bé. Sức mạnh của đắm say bị che dấu đã biến em thành đàn bà. Hôm nay, em táo bạo vô cùng, em tự mình dâng hiến cho tôi. Trước em, tôi là một thằng hèn, lúc này đây tôi còn sợ em cài bẫy mình, không dám ôm lấy em chỉ vì lo chết bởi sập bẫy.
Chiến tranh sắp nổ ra. Mai này, tôi phải ra đi và bỏ em ở lại. Làm sao tôi dám lạm dụng tấm thân trinh trắng của em mà không day dứt gì?
Là lính, tôi chỉ xứng với cái chết chứ không đáng để hưởng tình yêu.
Để tĩnh trí lại, tôi nhắm mắt. Đối lập với khu rừng ngập nắng, tôi nhìn thấy hình ảnh một cánh đồng tuyết, những giao thông hào đào trong đất giá băng, các xác chết thối rữa.
Có cái gì va vào chân tôi. Cô gái người Hoa gập người lại, em có vẻ đang đau đớn. Em có lạnh không? Là tiểu thư được cưng chiều, em ngủ đất lâu không có lợi. Tôi khe khẽ lay em. Em không thức dậy mà lại rùng mình và tiếp tục cơn mê sảng. Tôi nắm tay em và kéo lại đặt trên đầu gối mình. Em có vẻ bình tâm lại.
Dường như tôi thấy giữa hai hàng mi khép của em thoáng ánh hạnh phúc.

Những trang cuối xúc động thật sự. Quên tất cả bờ vực đi, quên xứ Mãn Châu mùa hè nóng bỏng, quên Tokyo gió tuyết. Chỉ còn tình yêu. Lao xuống. Vút lên.

Người tù từ từ ngẩng đầu lên.
Tôi chóng mặt.
- Khoan đã!
Tôi lao tới chàng thanh niên và lau khuôn mặt đen ngòm vì bùn và khói súng. Những nốt ruồi nhỏ hình giọt lệ lộ ra.
- Đừng động vào tôi, em kêu lên.
- Đàn bà, Hayashi kêu lên và cất gươm trở lại vào bao.
Hắn đẩy tôi ra, xô ngã người tù và lùa tay vào trong quần.
Tim tôi buốt lạnh. Em tôi! Em làm gì ở đây, trong ngôi làng này? Em rời Mãn Châu từ bao giờ?
- Đàn bà! Hayashi khẳng định đầy kích động.
Thiếu nữ vừa giãy dụa vừa thét lên chói tai. Hắn tát cô hai cái, kéo giầy và tụt quần cô ra. Hắn tháo thắt lưng. Binh lính như bị mê hoặc quây thành vòng xung quanh.
 - Chúng mày tránh ra, ai cũng có phần cả! Hayashi ra lệnh.
- Đồ ngu!
Tôi nhảy xổ và tên trung uý. Hắn tức giận quay về phía tôi. Khi nhìn thấy khẩu súng của tôi chĩa vào sát trán, hắn bật cười:
- Đồng ý, anh dùng trước. Dù sao thì cũng là phát hiện của anh.
Tôi không trả lời. Hắn tưởng hiểu ý tôi và thì thầm vào tai:
- Lần đầu đúng không? Này, nếu cậu ngại làm trước mặt mọi người, vào trong cái đền kia, tớ gác cửa cho.
Hayashi kéo tôi vào ngôi đền trước mặt. Hai tên lính khiêng cô gái và ném lên sàn. Chúng vừa khép cửa vừa cười khinh khích.
Em run lẩy bẩy. Tôi cởi áo khoác che đôi chân trần của em.
- Em đừng sợ, tôi nói bằng tiếng Trung Quốc.
Giọng tôi làm em rùng mình. Em mở tròn mắt và nhìn tôi. Một nỗi đau vô hạn bóp méo gương mặt em. Đột nhiên, em nhổ vào tôi và bắt đầu nức nở, lăn xuống đất.
- Giết tao đi, giết tao đi!
Hayashi đập cửa, tôi nghe tiếng hắn cười gằn:
- Trung uý nhanh lên. Lính của tôi không nhin được nữa rồi!
Tôi ôm cô gái Trung Hoa của tôi trong tay. Em cắn vào vai tôi. Dù đau tôi vẫn áp má mình vào vai em. Nước mắt trào ra, tôi thì thầm:
- Tha lỗi cho anh, em tha lỗi cho anh…
 Em trả lời bằng những tiếng thét như người động kinh:
- Giết tôi đi, giết tôi đi, đừng để tôi sống làm gì!
Bên ngoài cửa đền, Hayashi gọi:
- Trung uý lâu quá đấy. Nhanh lên chứ, đừng ích kỷ thế.
Tôi cầm súng dí sát vào thái dương em và em ngẩng đầu lên. Nỗi sợ hãi đã biến mất. Em nhìn tôi với vẻ dửng dưng như cách em vẫn nhìn người xa lạ. Tôi rùng mình và xiết chặt khẩu súng hơn nữa:
- Em có nhận ra anh không?
Em nhắm mắt.
- Anh biết là em ghét anh, anh biết là em không tha thứ cho anh. Giờ đây, anh chẳng cần để ý đến nỗi khinh miệt của em nữa. Anh sẽ giết em và anh sẽ chết theo em. Vì em anh sẽ từ bỏ cuộc chiến này, anh sẽ phản bội Tổ quốc anh. Vì em anh sẽ là một thằng con bất hiếu, một kẻ làm nhơ nhuốc dòng họ của mình. Tên anh chẳng bao giờ có trong đền thờ những anh hùng. Anh là kẻ bị nguyền rủa.
Tôi hôn chi chít lên mặt em, nước mắt em chảy ròng ròng. Em để mặc tôi không hề chống cự. Có tiếng báng súng làm rung cả nền nhà.
- Trung uý, xong chưa? Tôi đếm đến ba và tôi xông vào đấy! Một…
Tôi không còn có thời gian để hỏi tại sao em rời xứ sở, tại sao em cắt mớ tóc đẹp của mình đi. Tôi có hàng ngàn câu hỏi và tôi sẽ không hỏi được một câu nào. Tôi không bao giờ biết cách nói những lời yêu đương với em.
 - Hai…
Tôi thì thầm bên tai em:
- Em đừng sợ, anh sẽ theo em. Anh sẽ bảo vệ em trong thế giới bên kia. Em mở mắt nhìn tôi đăm đăm:
 - Tên em là…
Nhưng tôi đã bóp cò. Lòng đen trong mắt em giật lên, con ngươi giãn ra. Máu vọt ra từ thái dương. Em ngã ngật cổ ra sau mà mắt vẫn mở trừng trừng.
Cửa mở, tôi nghe có tiếng chân phía sau và tuyệt vọng biết rằng mình không kịp có thời gian để tự mổ bụng như một chiến binh samurai xứng đáng.
Tôi đưa nòng súng vấy máu em vào miệng.
Có tiếng ầm như tiếng động đất.
Tôi ngã xuống người cô gái chơi cờ vây. Mặt em dường như hồng hơn ban nãy. Em mỉm cười. Tôi biết rằng chúng tôi sẽ chơi tiếp ván cờ ở nơi xa kia. 
Để có thể ngắm nhìn người tôi yêu dấu, tôi đã cố gắng giữ cho mắt mở.

Friday, February 24, 2012

Equality?

You all can play swing.    

But only Blonde and Brunette can be princess?

Tuesday, February 21, 2012

under the sun

Besides my cuckoo's nest, I do need a another place to belong to.
Life is absolutely not what you expect/ want/ dream/ hope.
It just happens.
It's naked and grim.

(có người sửa lỗi dùng từ dùm cho nữa đấy, thấy tớ được cưng  hem? hehe)

Sunday, February 19, 2012

improvisation

Chơi đàn giống như nói chuyện, vì âm nhạc là một thứ ngôn ngữ.

Khi một người lưu loát tiếng mẹ đẻ, anh ta không cần cầm một bài viết có sẵn và đọc từ dòng đầu tiên kiểu: Kính thưa các loại quý vị... Anh ta đứng trước một đám đông, một hội nghị... Anh ta bắt đầu nói, có thể có chủ đề hoặc không, nhưng chắc chắn anh ta nói hay, và ngay thời điểm anh ta nói, anh ta đang không biết mình nói gì  tiếp theo đó và nội dung cuộc nói đó sẽ đi về đâu. Quan trọng là nó có duyên và khán thính giả của anh ta thấy hay, ngay lúc đó. Gọi là nói chuyện ngẫu hứng hay là ứng khẩu.

Mình thích style của host/MC/presenter này lắm cơ. Nhưng đứng trên cương vị một producer, làm việc với người style này cũng đau... tim chết được :))

Khi một người chơi nhạc đạt đến trình độ nào đó, master chẳng hạn, âm nhạc trở thành tiếng mẹ đẻ. Tương tự trên, anh ta đứng trước một đám đông, một hội nghị... và ngay cả lúc không ai trước mặt anh ta, anh ta ôm đàn và chơi đàn. Nhạc thoát ra từ ngón tay anh ta, ngay khi bấm nốt này, hợp âm này, anh ta không biết bài nhạc mình đang chơi sẽ tiếp theo thế nào, đi về đâu. Quan trọng là nó hay. Cái hay năm phút trước khác năm phút sau nếu anh ta ôm đàn trong 10 phút hôm đó. Cái hay 5 phút hôm nay khác 5 phút hôm qua, nếu 2 ngày liên tục anh ta ôm đàn chơi chơi :)) Có những bậc thầy âm nhạc thế giới, chỉ chơi nhạc/ trình diễn kiểu ngẫu hứng này thôi (muốn biết ai thì tự sướng với Google đi), mặc kệ đó là đêm khuya ôm đàn lẻ loi hay trình diễn trong một nhà hát cổ kính và cả thế giới đang dõi theo anh ta.

Shit happens là bản quyền của Forrest Gump :P Mình viết "Music happens" ở đây. Đặt vô đây đúng chỗ. Để mô tả một kiểu chơi nhạc như trên, improvising music.

nói dây điện thí có dây điện đó, ngon thì leo :))


Có một quá trình gọi là detox, chữ đầy đủ là detoxification, dịch ba trợn là quá trình giải độc hoặc là quá trình cai nghiện.

Academic (dịch ba trợn là học thuật hay hàn lâm) cũng là một thứ thuốc độc. Bậc thầy vĩ cầm của nước Anh, chính xác hơn là của cả thế kỷ 20, người mà mới 6 tuổi đã được đặc cách vào học học viện âm nhạc hoàng gia Anh, 18 tuổi có trong tay một gia tài vài triệu bảng Anh, đến tuổi trung niên, đã cố gắng làm mọi cách trong phần đời còn lại của ông để "giải trừ học thuật", chỉ để làm được cái chuyện mà ông khát khao: chơi nhạc/ trình diễn ngẫu hứng! Nghĩa là ông mong mỏi "music happens", một sự chuyển hóa từ academic music sang improvising music. Mà cuối cùng ông thất bại (ông là ai thì tự sướng với Google tiếp đi). Vậy mới nói, academic là cực độc :))

Cách duy nhất giải độc chắc là mượn cỗ máy thời gian của Doraemon đi ngược lại và ngăn độc thấm vô mình :))

Nhìn thì thấy academic artist nhiều hen. Tất nhiên là đáng tôn trọng, chỉnh chu và "từ điển". Nhưng improvising artist thì chơi dzui hơn (và đau tim hơn), chơi hoài hông chán, hí hí, vì mấy bạn này là bậc thầy của nghệ thuật "leo/ đu dây điện" =))

Mà hay nhất là cả 2 tính từ đó lại có thể dung hòa trong cơ thể một người. Thiệt ra bạn đó nhận về mình improvising style thôi, nhưng khổ nổi hỏi đến cái gì cũng biết (không chỉ nhạc), nhạc classic chơi rào rào, hic.

Dịch một cách ba trợn cái tựa, improvisation là sự ngẫu hứng hóasự tùy biến hóa, sự thời điểm hóa vậy nha. Hay quỡn hơn dịch là sự phù thủy hóa, hay sự leo dây điện hóa cũng được! =))

Monday, February 13, 2012

Midnight conversation (last year)

Husb: sweetie, I am having a stomatchache, can't sleep.
Wife: poor ya, honey, but do you know where I put my green oil?
Husb: olive oil is in the kitchen.
Wife: nope, my green oil
Husb: green tea is in the kitchen, too.
Wife: no, green oil, the one that we can apply on belly when it's hurt. (running out of patience)
Husb: what, green oil, haha, haha, haha (then get up, turn on the computer and play game)